[KDQT] Môi trường kinh doanh quốc tế

MÔI TRƯỜNG KDQT

2.1. MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ

Hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận (từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam).. Hệ thống kinh tế, luật pháp được định hình trên hệ thống chính trị.

2.1.1. Hệ thống chính trị thế giới

Chế độ chuyên chế (totalitarianism): Chế độ chuyên chế là chế độ chính trị trong đó nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội.  . Một chính phủ chuyên chế thường tìm cách kiểm soát không chỉ các vấn đề kinh tế chính trị mà cả thái độ, giá trị và niềm tin của nhân dân nước mình. Quyền lực được duy trì bằng cảnh sát ngầm, thông tin truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng do nhà nước kiểm soát, …

Chế độ xã hội chủ nghĩa (Socialism)

  • Chính phủ cần kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại.
  • Chế độ xã hội chủ nghĩa trên hầu hết các quốc gia hiện nay được thể hiện dưới hình thức xã hội chủ nghĩa

Chế độ dân chủ (democracy)

  • - Quyền sở hữu tư nhân: chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân.
  • - Quyền lực có giới hạn của chính phủ: chính phủ nơi đây chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân như bảo vệ quốc phòng, duy trì luật pháp và trật tự xã hội, ….

 

2.1.2. Tác động của môi trường chính trị đến kinh doanh quốc tế

Rủi ro môi trường chính trị được hiểu là khả năng có thể phát sinh khi quyền lực chính trị gây ra những thay đổi mạnh mẽ trong môi trường thương mại, ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và những mục tiêu kinh doanh khác của một doanh nghiệp cụ thể.

Một xã hội càng rối loạn, hay càng tiềm ẩn những bất ổn ngay trong lòng thì nguy cơ rủi ro về chính trị gặp phải ngày càng cao. Những bất ổn xã hội biểu hiện rõ ràng dưới hình thức của các cuộc bãi công, biểu tình, khủng bố, và những xung đột vũ lực.

Rối loạn xã hội có thể là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi đột ngột trong chính quyền, trong chính sách nhà nước, và một số trường hợp trong cả những cuộc xung đột dân quyền kéo dài. Các cuộc xung đột này có những tác động tiêu cực đến mục tiêu lợi nhuận kinh tế của một số doanh nghiệp

 

2.2. Môi trường pháp luật

Hệ thống luật pháp cung cấp một khung pháp  chế các quy định và quy tắc chỉ thị, cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụ thể giữa con người và các tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm các quy định và quy tắc kể trên. .Hệ thống chính trị hiện hành – chế độ chuyên chế, chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ cũng có xu hướng tác động đến hệ thống pháp luật tương ứng.

2.2.1. Hệ thống pháp luật trên thế giới

Luật án lệ: Luật án lệ (còn được gọi là tiền lệ pháp) là một hệ thống luật pháp có nguồn gốc từ Anh và lan rộng sang Autralia, canada, Hoa kỳ và những nước cựu thành viên của khối thịnh vượng chung. .Cơ sở của luật tiền lệ là theo dõi thực tiễn vừa qua và các tiền lệ pháp lý do tòa án quốc gia thông qua việc giải thích các quy chế, pháp luật và sự điều hành trước đó.

Luật dân sự (civil law):Luật dân sự ra đời tại Pháp, Đức, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico và ở Hoa kỳ Latin.Luật dân sự được căn cứ trên một hệ thống pháp luật đầy đủ và được hệ thống hóa – một cách rõ ràng bằng văn bản và có thể tiếp cận. Sự khác biệt chính giữa hai hệ thống là trong khi luật án lệ chủ yếu xuất phát từ tòa án và được phán xét dựa trên quyết định của tòa án, thì Luật Dân sự chủ yếu xuất phát từ cơ quan lập pháp và dựa trên những đạo luật được ban hành bởi cơ quan lập pháp quốc gia và địa phương.

Luật Tôn giáo (Luật Thần quyền): Luật Tôn giáo (Luật Thần quyền) là một hệ thống pháp lý bị ảnh hưởng rõ rệt của tôn giáo, nguyên tắc đạo lý, và các giá trị đạo đức được xem như là một hiện thân tối cao. Hệ thống Luật Tôn giáo quan trọng nhất được dựa trên các đạo luật của Ấn Độ giáo, Do Thái và Hồi giáo. Quan điểm truyền thống của Luật Tôn giáo phản đối mọi sự tự do và hiện đại hóa tại các nước theo đạo Hồi. Ví dụ như, quy định nghiêm khắc của luật Hồi giáo nghiêm cấm cho và nhận lãi suất vay hay đầu tư. Như vậy, đê tuân theo luật Hồi giáo, các ngân hàng không thể cho vay lấy lãi như thông lệ mà phải thu lợi nhuận bằng cách tính lệ phí hành chính hoặc mức lợi nhuận hợp lý trong các dự án tài chính mà họ cấp vốn.

Luật Xã hội chủ nghĩa: Luật Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống pháp lý thường gặp chủ yếu ở các nước cựu thành viên của Liên Bang Xô Viết.Được dựa trên Luật Dân sự, kết hợp với các yếu tố của nguyên tắc xã hội chủ nghĩa mà nhấn mạnh quyền sở hữu tài sản của nhà nước.

Luật hỗn hợp: Luật hỗn hợp đề cập đến một biến thể của 2 hoặc nhiều hệ thống pháp lý điều hành với nhau.

2.2.2. Tác động của môi trường pháp luật đến kinh doanh quốc tế

Hệ thống luật pháp ở cả “nước chủ nhà” và “nước ngoài” đều tạo nên những khó khăn thử thách khác nhau đối với các doanh nghiệp.

- Rủi ro quốc gia nảy sinh từ môi trường pháp lý ở nước ngoài: Chính phủ của nước chủ nhà có thể áp đặt rất nhiều quy tắc luật pháp đối với doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại nước mình.

Pháp luật đầu tư nước ngoài. Những bộ luật này có ảnh hưởng lớn đối với chiến lược gia nhập thị trường của một doanh nghiệp, cũng như đối với cơ cấu và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.

Kiểm soát cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh. :Chính phủ các nước thường ban hành các bộ luật cũng như nguyên tắc mà dựa trên đó các doanh nghiệp điều tiết các hoạt động sản xuất, quảng bá, và phân phối của mình trong phạm vi lãnh thô nước đó.

Quy định về Marketing và phân phối. Các bộ luật này chỉ rõ hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, phân phối như thế nào là hợp pháp. Ví dụ, chính phủ các nước Phần Lan, Pháp, Nga và New Zealand cấm quảng cáo thuốc lá trên TV.

Quy định về chuyển lợi nhuận về nước mẹ. Chính phủ đặt ra các bộ luật hạn chế việc lưu chuyển dòng tiền như thế. Hành động này là nhằm bảo tồn những ngoại tệ mạnh trong nội địa, như đồng Euro, đô la Hoa Kỳ, hoặc đồng Yên Nhật.

Quy định về bảo vệ môi trường. Chính phủ các nước thường ban hành các bộ luật nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chống nạn Ô nhiễm, chống lợi dụng tài nguyên không khí, đất, nước, cũng như nhằm đảm bảo sực khỏe và an toàn.

- Pháp luật hợp đồng. Các bản hợp đồng giao dịch quốc tế chỉ rõ những quyền hạn, nhiệm vụ, cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.

Hiện nay các nhà làm luật đang tiến tới xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về các hợp đồng mua bán quốc tế.

- Pháp luật về Internet và thương mại điện tử. Những quy tắc này giờ đây cũng được xem là những hạn chế mới trong hệ thống pháp luật.

 

2.3. Môi trường kinh tế

Hệ thống kinh tế là một cơ chế liên quan đến sản xuất, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Nó bao gồm các cấu trúc và các quá trình hướng dẫn phân phối các nguồn lực và hình thành nguyên tắc hoạt động kinh doanh trong một đất nước. Hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế có liên quan chặt chẽ đến nhau.

Hệ thống kinh tế

2.3.1.1. Kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là một hệ thống trong đó các cá nhân chứ không phải là chính phủ sẽ quyết định các vấn đề kinh tế. Mọi người có quyền tự do lựa chọn làm việc gì, ở đâu, tiêu dùng hay tiết kiệm như thế nào và nên tiêu dùng bây giờ hay sau này. “Sự thống trị của người tiêu dùng”, hay nói theo cách khác là ảnh hưởng của người tiêu dùng lên phân bố các nguồn lực thông qua nhu cầu với sản phẩm, chính là cơ sở nền tảng của nền kinh tế thị trường.Một nền kinh tế thị trường phụ thuộc rất ít vào những quy định của chính phủ. Điều này cũng dẫn đến những hạn chế nhất định

2.3.1.2. Kinh tế tập trung: Một nền kinh tế tập trung là hệ thống kinh tế trong đó nhà nước sở hữu chi phối mọi nguồn lực. Có nghĩa là, nhà nước có quyền quyết định hàng hóa và dịch vụ nào được sản xuất, với một số lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào và giá cả ra sao.Những nền kinh tế tập trung có nhiều nhược điểm.

Nền kinh tế tập trung có thể hoạt động tốt trong ngắn hạn, đặc biệt là trong quá trình tăng trưởng bởi nhà nước có khả năng di chuyển những nguồn lực chưa được khai thác hay khai thác chưa hiệu quả để tạo ra tăng trưởng.

2.3.1.3. Kinh tế hỗn hợp: Một nền kinh tế hỗn hợp là kinh tế mà hầu hết do thị trường quyết định, và hình thức sở hữu tư nhân là phổ biến hơn, nhưng vẫn có can thiệp của nhà nước vào các quyết định cá nhân.Hầu hết các nền kinh tế có thể được coi là kinh tế hỗn hợp, có nghĩa là rơi vào khoảng giữa của thang phân cực kinh- tế tu bản – kinh tế xã hội chủ nghĩa.

 

2.3.2. Các chỉ số phân tích môi trường kinh tế

Tổng thu nhập quốc gia:Tổng thu nhập quốc gia (Gross National Income – GNI) là thu nhập tạo bởi tất cả các hoạt động sản xuất trong nước và quốc tế của các công ty một quốc gia. GNI là giá trị của mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế nội địa cộng với thu nhập ròng (như tiền thuê lợi nhuận, thu nhập nhân công) từ nước ngoài trong vòng 1 năm.

Tổng sản phẩm nội địa (GDP): GDP là tổng giá trị của mọi hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong biên giới của một quốc gia trong vòng 1 năm, không phân biệt các chủ thể kinh tế nội địa hay nước ngoài.

Tính toán các chỉ số trên đầu người: Cách phổ biến nhất là chia GNI cũng như nhiều chỉ báo kinh tế khác theo số người sống trong một quốc gia để tìm ra chỉ số GNI/GDP… dựa trên đầu người. Chỉ số này và các chỉ số khác cho thấy hiệu năng của nền kinh tế trên cơ sở số người sống trong một nước. Ví du, Luxembourg, một nước có nền kinh tế nhỏ nhất thế giới, giá trị tuyệt đối GNI khá thấp, nhưng GNI trên đầu người lại cao nhất thế giới. Ngân hàng Thế giới gọi các nước thu nhập thấp và trung bình thấp là các nước đang phát triển – developing countries. Một số nhà phân tích gọi đây là các nước mới nổi – emerging countries hoặc các nền kinh tế mới nổi – emerging economies. Đây là nhóm có số lượng quốc gia và dân cư lớn nhất trên thế giới. Các quốc gia thu nhập cao gọi là các nước phát triển (developed countries), hoặc các nước công nghiệp (industrial countries)

Tỉ lệ thay đổi: các chỉ số như GNI, GDP, các chỉ số trên đầu người… cho chúng ta biết kết quả hoạt động trong năm của một quốc gia, nhưng không cho biết sự biến động của các chỉ số này. Việc nghiên cứu tình hình hiện tại và dự đoán hiệu quả kinh tế tương lại đòi hỏi xác định tỉ lệ của các thay đổi.

Sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP): Các nhà quản lý khi so sánh giữa các thị trường thường chuyển đổi chỉ số GNI của nước ngoài về đồng tiền của nước họ. Về mặt tính toán, PPP là số đơn vị tiền tệ của một quốc gia cần thiết để mua cùng một khối lượng hàng hóa dịch vụ trong thị trường nội địa của một nước khác.

Mức độ phát triển con người: Human development Index – HDI. Chỉ số phát triển con người bao gồm chi báo về sức mua thực tế, giáo dục và sức khỏe để có một thước đo toàn diện về phát triển kinh tế. Sử dụng chỉ số này kết hợp các chỉ báo kinh tế và xã hội sẽ cho phép nhà quản lý đánh giá, toàn diện hơn nữa sự phát triển dựa trên khả năng và cơ hội mà con người được hưởng.

 

Chỉ số đo lường Xanh (Green Measures) của GNP

Tổng sản phẩm xanh quốc gia (Green Net National Product)

Chỉ số tiến bộ thực tế (Genuine Progress Indicator

 

2.3.3. Tác động của môi trường kinh tế đến KDQT

Tác động của những biến động về kinh tế rất phong phú. Một số biến động tác động trực tiếp và rõ ràng với các môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp hay các đối thủ của họ như khủng hoảng kinh tế. Một số khác lại gây ra những ảnh hưởng không rõ ràng lên hoạt động và kết quả cuối cùng của doanh nghiệp, như việc xuất hiện những liên kết kinh tế khu vực… Nắm được môi trường kinh tế của một đất nước sẽ giúp các nhà quản lý nhận biết được chính xác sự phát triển và các xu hướng kinh doanh đã và sẽ có thể ảnh hương như thế nào đến doanh nghiệp của họ.


2.4. Môi trường văn hóa

2.4.1.  Khái niệm về văn hóa: ”Văn hóa là một tổng thể phức hợp về những giá trị vật chất và tinh thần do con người kiến tạo nên và mang đặc thù riêng của mỗi một dân tộc”.

 

2.4.2. Các yếu tố văn hóa

Ngôn ngữ (Language).Tôn giáo (Religion).Giá trị và tháI độ (Values and Addtitudes).Cách cư xử và phong tục (Manner and customs)..Các yếu tố vật chất (Material elements)..Thẩm mỹ (Aesthetics).Giáo dục (Education.

a. Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là sự thể hiện rõ nét nhất của văn hóa vì nó là phương tiện để truyền đạt thông tin và ý tưởng. Nếu thông thạo ngôn ngữ của đối tác, sẽ thu được bốn lợi ích lớn:

Hiểu vấn đề 1 cách dễ dàng, thấu đáo nhờ đó có thể trực tiếp trao đổi được với đối tác làm tăng hiệu quả giao dịch.Dễ dàng làm việc được với đối tác nhờ có ngôn ngữ chung.Có thể hiểu và đánh giá đúng được bản chất, ý muốn và cả những ẩn ý của đối tác.Có thể hiểu và thích nghi với văn hóa của họ.

b. Tôn giáo: Tôn giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống, niềm tin, giá trị và thái độ, cách ứng xử của con người.

Tôn giáo còn ảnh hưởng đến chính trị và môi trường kinh doanh. Do đó, đến kinh doanh tại đâu thì phải nghiên cứu, hiểu những tôn giáo phổ biến tại nơi đó, làm việc với các đối tác cũng phải tìm hiểu xem họ theo tôn giáo nào, thì sẽ tránh được những rủi ro trong đàm phán.

c. Giá trị và thái độ: Giá trị là những quan niệm làm căn cứ để con người đánh giá đúng, sai, tốt, xấu, quan trọng và không quan trọng. Thái độ là những khuynh hướng không thay đổi của sự cảm nhận và hành xử theo một hướng xác định đối với một đối tượng.Thái độ bắt nguồn từ những giá trị và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của con người, đặc biệt là kinh doanh quốc tế.

D. Phong tục và cách cư xử: Phong tục là nếp sống, thói quen, là những lề thói trong xã hội của một nước hay một địa phương. Những nếp sống thói quen này được coi là phổ biến và được hình thành từ trước. Cách cư xử là hành vi được xem là đúng đắn, phù hợp trong một xã hội đặc thù.Phong tục thể hiện cách sự vật được làm, còn cách cư xử được dùng để thể hiện chúng. Mỗi dân tộc có cách cư xử riêng biệt của mình. Nếu nghiên cứu và hiểu đựơc phong tục và cách cư xử của đối tác thì công việc sẽ tiến hành trôi chảy, thuận lợi. Còn ngược lại thì sẽ gặp rủi ro.

e. Yếu tố vật chất của văn hóa:Văn hóa vật chất là những sản phẩm do con người tạo ra. Khi nghiên cứu văn hóa vật chất chúng ta xem xét cách con người tạo ra những sản vật (khía cạnh kỹ thuật), ai đã làm ra chúng và tại sao phải làm (khía cạnh kinh tế).Trình độ kỹ thuật của một xã hội  nó ảnh hưởng đến mức sống của người dân,  giúp giảI thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó.  Khi tiến hành kinh doanh ở những nước có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, các nhà kinh doanh cần chú ý đưa ra các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và nhiều tiện ích hơn. Còn ở những nước có trình độ kỹ thuật kém phát triển hơn thì những sản phẩm cao cấp như vậy chưa chắc đã được hoan nghênh vì chưa phù hợp.

g. Yếu tố thẩm mỹ: Thẩm mỹ là sự hiểu biết và thưởng thức cái đẹp. Thẩm mỹ liên quan đến sự cảm thụ nghệ thuật, đến thị hiếu của nền văn hóa, từ đó ảnh hưởng đến giá trị và thái độ của con người ở những quốc gia, dân tộc khác nhau.

h. Yếu tố giáo dục: Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên và xã hội, cũng như những kỹ năng kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống.

2.4.3. Tác động của môi trường văn hóa đến kinh doanh quốc tế

a. Nhật bản

  • Coi trọng đúng giờ và đúng hẹn
  • Coi trọng hình thức
  • Thái độ chào hỏi
  • Nói năng nhỏ nhẹ, ôn hòa
  • Coi trọng thứ bậc
  • Coi trọng trao đổi danh thiếp
  • Yêu thích tặng quà cáp
  • Không thích đối đầu trực tiếp
  • Tinh thần tập thể
  • Biết dừng đúng lúc

b. Trung quốc

  • Có tinh thần dân tộc mạnh mẽ
  • Rất coi trọng quan hệ đồng hương
  • An phận thủ thường
  • Mưu lược, sâu sắc
  • phân biệt đẳng cấp
  • Thiếu giao tiếp
  • Bảo thủ
  • Tâm khẩu bất đồng

c. Hoa kỳ

  • Tự do cá nhân và ý thức tự lâp mạnh mẽ
  • Cần cù lao động và quý trọng đồng tiền tự làm ra.
  • Xã hội bình đẳng
  • Rất thằng thắn và trung thực
  • Coi trong thời gian, thời gian là tiền bạc
  • Người Mỹ đánh giá con người qua bản lĩnh cá nhân
  • Phản ứng linh hoạt
  • Tiếp cận trực tiếp

Rủi ro văn hóa được hiểu là những tình huống hay sự kiện trong đó việc truyền đạt sai lệch về văn hóa có thể gây nên hiểu nhầm nghiêm trọng trong quan hệ giữa các đối tác từ những nền văn hóa khác nhau.Rủi ro đa văn hóa thường xuyên nảy sinh trong hoạt động kinh doanh quốc tế bởi vì những người tham gia vào hoạt động này được thừa hưởng những di sản văn hóa vô cùng đa dạng.Văn hóa tác động đến các trao đổi giữa các cá nhân với nhau cũng như việc vận hành các chuỗi giá trị như việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ, marketing và bán hàng. Các nhà quản lí phải chú ý đến vấn đề văn hóa khi thiết kế sản phẩm, bao bì và kể cả màu sắc. Khác với các hệ thống chính trị, luật pháp và kinh tế, văn hóa rất khó xác định và phân tích. Văn hóa tác động đến các trao đổi giữa các cá nhân với nhau cũng như việc vận hành các chuỗi giá trị như việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ, marketing và bán hàng. Các nhà quản lí phải chú ý đến vấn đề văn hóa khi thiết kế sản phẩm, bao bì và kể cả màu sắc. Kỹ năng thích nghi văn hóa có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng lợi ích cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhà quản lý không những cần phải thấu hiểu và chấp nhận sự khác nhau giữa các nền văn hóa mà còn cần phải hiểu biết sâu sắc về niềm tin và các giá trị văn hóa của đối tác nước ngoài. Kỹ năng này đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong nhiều nghiệp vụ kinh doanh quốc tế:

  • Phát triển sản phẩm và dịch vụ.
  • Giao tiếp và trao đổi đối với đối tác kinh doanh nước ngoài.
  • Xem xét và lựa chọn nhà cung cấp và đối tác nước ngoài
  • Đàm phán và thiết kế các hợp đồng kinh tế quốc tế.
  • Giao tiếp với khách hàng hiện tại và tiềm năng ở nước ngoài.
  • Chuẩn bị các cuộc triển lãm và hội chợ thương mại ở nước ngoài.
  • Chuẩn bị cho hoạt động quảng cáo và xúc tiến thương mại.

Cảm ơn các bạn đã ghé qua blog của mình. Các bạn click vào hình dưới đây là Like giúp mình trang Sebefy Store này nhá.

quangcao1

About these ads

Gửi lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s